Soạn bài đặc điểm của ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết

Soạn bài đặc điểm của ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết văn 10

I. Khái niệm ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết
1. Ngôn ngữ nói

Ngôn ngữ nói là ngôn ngữ âm thanh, dùng trong giao tiếp hàng ngày giữa con người với con người, trong đó hai người có thể thay phiên nhau đóng vai trò người nói hoặc người nghe.

2. Ngôn ngữ viết

Ngôn ngữ viết là ngôn ngữ được thể hiện bằng chữ viết trong văn bản, người tiếp nhận bằng thị giác.

II. Những đặc điểm của ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết
1. Ngôn ngữ nói

– Ngôn ngữ nói rất đa dạng về ngữ điệu: giọng nói có thể nhanh hoặc chậm, to hay nhỏ, cao hay thấp, mạnh hay yếu… Ngữ điệu trong ngôn ngữ là yếu tố quan trọng bộc lộ được thông tin của chủ thể giao tiếp muốn truyền đạt tới người tiếp nhận hoặc nó cũng đồng thời bổ sung thông tin.
– Trong ngôn ngữ nói thì ngoài âm thanh và giọng điệu thì còn có rất nhiều những phương tiện khác hộ trợ cho quá trình nói như: nét mặt, cử chỉ, suy nghĩ thể hiện qua cả ánh mắt,…
– Hệ thống từ ngữ trong ngôn ngữ nói thì vô cùng đa dạng: từ ngữ địa phương, tiếng lóng, các biệt ngữ, khẩu ngữ, các trợ từ, thán từ, các từ ngữ đưa đẩy…Đôi khi trong ngôn ngữ nói được rút gọn tối giản có khi chỉ còn một từ nhưng có câu lại nói rườm rà, dài dòng hay có câu lại lặp đi lặp lại..vv ( giúp nhấn mạnh để truyền đạt rõ cho người nghe hiểu được hoặc rút ngắn gọn lại trong những trường hợp đặc biệt).
– Ngôn ngữ nói được hình thành nhanh chóng trong quá trình thực hiện lời nói, không phải chỉnh sửa hay chuẩn bị lâu dài.

2. Ngôn ngữ viết

– Ngôn ngữ viết được thể hiện qua chữ viết trong văn bản, hình thành một cách có chọn lọc kĩ càng, có suy nghĩ và căn chỉnh một cách cẩn thận.
– Từ ngữ trong ngôn ngữ viết được chỉnh sửa, thay thế và có độ chính xác cao. Trong khi trình bày lên văn bản mỗi người lại có một cách lựa chọn hệ thống ngôn ngữ khác nhau sao cho phù hợp nhất với mục đích người sử dụng.Qua đó tạo được phong cách độc đáo rất riêng cho mỗi người, tạo ấn tượng cho người đọc.
–  Trong ngôn ngữ viết đặc biệt rất tránh sử dụng những từ tính khẩu ngữ, từ địa phương, tiếng lòng… Cấu trúc câu thì thường những câu đầy đủ nội dung và đúng về hình thức. Tránh câu dài dòng, xáo rỗng, những câu rút gọn mà làm mất nội dung khiến người đọc khó hiểu được.
– Trong ngôn ngữ viết thì được hỗ trợ cùng các hình ảnh, kí hiệu, sơ đồ, bảng biểu…góp phần làm sinh động và rõ nội dung hơn.

Loading...


3. Ưu, nhược điểm của ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết

– Với ngôn ngữ nói là ngôn ngữ được nói ra tức thời, không có thời gian chỉnh sửa, gọt giũa kĩ càng. Khi giao tiếp thì người nghe có thể phản hồi lại ngay trực tiếp để góp ý sửa đổi cho người nói rút kinh nghiệm và hoàn thiện quá trình giao tiếp của mình hơn. Người tiếp nhận cũng được tiếp nhận ngay tức khắc nên có thể chia ra hai trường hợp: một là người tiếp nhận hiểu được và hiểu chính xác hay là có thể hiểu lệch lạc.

– So với ngôn ngữ nói thì ngôn ngữ viết được chuẩn bị kĩ và có sự điều chỉnh nên sai sót gặp phải sẽ ít hơn.Cách truyền đạt tới người tiếp nhận cũng sẽ được cụ thể, người đọc có thể đọc đi đọc lại nhiều lần.Nhưng ngoài ra muốn giao tiếp được bằng ngôn ngữ viết thì hai bên đều phải hiểu các kí tự chữ viết, chính tả, những quy định về văn bản hay những quy tắc trong khi dùng dấu hiệu.Cách sử dụng ngôn ngữ viết cũng có thể gây thắc mắc cho người đọc, nhiều khi không thể giải quyết được ngay tức thì.

III. Luyện tập

1.Đặc điểm ngôn ngữ viết của đoạn trích trong bài Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt

– Các hệ thống thuật ngữ được sử dụng: vốn từ, từ vựng, ngữ pháp, phong cách, thể văn…
– Cách tách ý rõ ràng thành ba dòng để giúp cho người tiếp nhận dễ hiểu hơn
-Dùng các chỉ từ( một là, hai là, ba là…) để đánh dấu các luận điểm và thứ tự trình bày.
– Dùng các dấu câu: dấu chấm, dấu phẩy, dấu ba chấm, dấu ngoặc kép, dấu ngoặc đơn.
– Sử dụng cách giải thích là cho vào trong ngoặc.

2. Đặc điểm của ngôn ngữ nói của đoạn trích trong truyện Vợ nhặt

– Sử dụng các từ ngữ trong ngôn ngữ nói hàng ngày như: mấy, có khối, sợ gì, nói khoác, đằng ấy, cười tít…
– Các từ hô gọi: kìa, này, nhà tôi ơi, đằng ấy…
– Các từ tình thái: có khối…đấy, đấy, sợ gì…
– Miêu tả các cử chỉ điệu bộ cùng với lời nói như: đẩy vai, cười ( nắc nẻ), cong cớn, ngoái cổ, ton ton chạy…

3. a) Cần bỏ từ “ trong” để có chủ ngữ và từ “thì” ; thay từ “ hết ý” bằng từ như “ rất” (đẹp) hoặc “ vô cùng”…
    b) Tahy từ “vống lên” bằng từ “ quá mức thực tế”, thay “ vô tội vạ” bằng “ vô căn cứ”.
    c) Bỏ từ “ sất”, thay từ “ thì” (thứu 2) bằng từ “ đến”. Tuy nhiên câu này cần thay đổi cả nội dung vì câu tương đối tối nghĩa.

Loading...
CÁC BẠN LIKE FANPAGE ĐỂ THEO DÕI CÁC BÀI VĂN MỚI NHẤT NHÉ! Thích hay chia sẻ bài viết với bạn bè:

Bài viết liên quan